Chào Bạn! Hình như bạn vẫn chưa là thành viên trên VGT. Để đăng bài bạn có thể đăng ký miễn phí! rất nhiều người đang chờ bạn.
kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Tổn thương miệng do thuốc

Day la bai viet Tổn thương miệng do thuốc trong box Thuốc Và Sức Khỏe, mot Box cua chuyen muc CẨM NANG CHĂM SÓC SỨC KHỎE. Voi thong tin: Hiện nay, rất nhiều loại thuốc được biết có thể gây ra các tác dụng phụ ở miệng như viêm ...

  1. #1
    chuavo's Avatar
    Administrators

    Status
    Offline
    Ngày tham gia
    Jun 2007
    Nơi ở
    HCM
    Bài viết
    4,175
    Cám Ơn!
    126
    Thanked 334 Times in 242 Posts

    Cấp độ: 48 [♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥]
    Hoạt động: 237 / 1186
    Điểm: 1391 / 20502
    Kinh Nghiệm: 46%

    Mặc định Tổn thương miệng do thuốc


    Hiện nay, rất nhiều loại thuốc được biết có thể gây ra các tác dụng phụ ở miệng như viêm loét miệng, khô miệng, sưng nề miệng, rối loạn vị giác, phì đại lợi, tổn thương tuyến nước bọt hoặc rối loạn vận động ở miệng… Cơ chế của các tổn thương này hết sức đa dạng và phức tạp, một loại tổn thương có thể gây ra do nhiều loại thuốc và theo nhiều cơ chế khác nhau, một thuốc cũng có thể gây ra nhiều dạng tổn thương khác nhau. Dưới đây xin đề cập đến 2 dạng tổn thương miệng do thuốc thường gặp nhất là viêm loét miệng và khô miệng. Viêm loét miệng


    Viêm loét, sưng nề miệng có thể do thuốc gây ra.

    Viêm loét miệng do thuốc có thể biểu hiện đơn lẻ giống như viêm miệng áp tơ hoặc là một biểu hiện của các hội chứng dị ứng thuốc như hồng ban nhiễm sắc cố định, hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens – Johnson hoặc Lyell.

    Viêm miệng dạng áp tơ do thuốc thường xảy ra ở người già và ít khi tái diễn nhiều đợt trừ khi dùng lại thuốc. Nguyên nhân thường gặp nhất của dạng viêm loét miệng này là do các hoá chất chống ung thư như methotrexate, 5-flurouracil, doxorubicin, melphalan, mercaptopurine, bleomycin..., do các thuốc này làm đứt gãy liên kết giữa các tế bào niêm mạc miệng và ức chế sự nhân lên của các tế bào này. Viêm miệng do hóa chất chống ung thư thường xảy ra trong vòng vài ngày sau khi bắt đầu điều trị, có nhiều ổ và gây đau nhức khiến người bệnh sợ ăn, có thể dẫn đến suy kiệt. Những trường hợp nặng thường đòi hỏi phải điều trị giảm đau bằng các dẫn xuất thuốc phiện hoặc đòi hỏi phải thay thế hoặc ngưng dùng hóa trị liệu. Nhiễm trùng tại vết loét thường làm cho tình trạng viêm loét nặng lên và có nguy cơ gây nhiễm trùng huyết. Điều trị hóa chất chống ung thư kéo dài còn có thể gây suy giảm miễn dịch dẫn đến các nhiễm trùng cơ hội ở miệng như viêm miệng do virut herpes, cytomegalovirus, các loại vi khuẩn và nấm. Ngoài các hoá chất chống ung thư, một số thuốc khác cũng được ghi nhận gây ra viêm loét miệng là captopril, nicorandil, một số loại thuốc chống viêm giảm đau, thuốc chẹn bêta giao cảm (như labetalol), alendronate, mycophenolate, sirolimus, tacrolimus, các loại sulphonamide, barbiturate, sodium lauryl sulphate, nhóm ức chế protease (thuốc diệt virut), phenolphthalein, dapsone và tetracycline. Tổn thương viêm loét miệng do các thuốc này thường không đặc hiệu và nhẹ hơn so với viêm miệng do các hoá chất chống ung thư, cơ chế còn chưa được hiểu rõ. Một số thuốc như aspirin, ôxy già, viên kali... khi dùng tại chỗ (tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc miệng) cũng có thể gây hoại tử niêm mạc dẫn đến viêm loét miệng tại nơi tiếp xúc với thuốc.

    Hồng ban nhiễm sắc cố định do thuốc thường biểu hiện với các đám tăng sắc tố ngoài da tồn tại kéo dài nhiều tháng, nhưng một số trường hợp có thể xuất hiện các bọng nước đi kèm với tổn thương mắt và miệng. Viêm loét miệng trong hồng ban nhiễm sắc cố định khởi đầu thường có biểu hiện nề đỏ, sau đó xuất hiện bọng nước, các đám viêm trợt nông, khu trú và không đặc hiệu. Một bệnh nhân đã từng bị hồng ban nhiễm sắc cố định có viêm loét miệng do một loại thuốc, nếu dùng lại chính loại thuốc đó có thể gây ra các ổ viêm loét miệng ở cùng một vị trí với lần loét miệng trước. Rất nhiều loại thuốc có thể gây ra hồng ban nhiễm sắc cố định, thường gặp nhất là paracetamol, phenobarbital, phenacetin, sulfonamide, tetracyclin và doxycyclin.

    Một số hội chứng dị ứng thuốc có bọng nước như hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens – Johnson, Lyell cũng thường có tổn thương viêm loét mắt, miệng đi kèm với các ban đỏ và bọng nước ngoài da. Các hội chứng dị ứng này thường xuất hiện sau dùng thuốc từ vài ngày đến vài tuần, loét miệng thường có nhiều ổ và lan xuống họng. Nguyên nhân thường gặp của các thể dị ứng này là các thuốc Đông dược, thuốc chống co giật (như phenobarbital, carbamazepine, phenytoin), kháng sinh (như sulphonamide, penicillin, rifampicin, fluconazole và vancomycin), thuốc chữa bệnh gout allopurinol.

    Khô miệng do thuốc

    Hơn 500 loại thuốc khác nhau được ghi nhận có thể gây biểu hiện khô miệng. Người già có nguy cơ cao nhất bị khô miệng do thuốc, nguyên nhân có thể do việc phải dùng đồng thời nhiều loại thuốc. Ngoài ra, thói quen hút thuốc lá, uống rượu, cà phê cũng có thể gây ra cảm giác khô miệng hoặc tăng nguy cơ khô miệng do thuốc. Khô miệng kéo dài có thể gây rối loạn vị giác, ảnh hưởng đến chức năng nói và nuốt.

    Các thuốc thường gặp nhất gây ra biểu hiện khô miệng là nhóm thuốc chống trầm cảm (như imipramine, fluoxetine), thuốc an thần (haloperidol, aminazine), nhóm benzodiazepine (như diazepam, lorazepam), thuốc đối kháng phó giao cảm (như atropin), thuốc chẹn bêta giao cảm (như propranolol) và một số thuốc kháng histamine H1 và H2 thế hệ cũ (như clorpheniramine, cimetidine, doxepine). Bên cạnh đó, một số nhóm thuốc khác như omeprazole, thuốc ức chế protease (điều trị HIV), didanosine, trospium chloride, elliptinium, tramadol, một số thuốc kháng histamine H1 thế hệ mới, retinoid, thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, chlorhexidine, các thuốc gây độc tế bào, thuốc ức chế men chuyển (như enalapril), chẹn kênh canxi (như nifedipine) và sulphonamide cũng đều được ghi nhận gây khô miệng trong một số ít trường hợp. Nói chung, các thuốc gây khô miệng chủ yếu qua 2 cơ chế là đối kháng phó giao cảm hoặc cường thần kinh giao cảm. Riêng các thuốc lợi tiểu có thể gây khô miệng do làm mất nước dẫn đến giảm sản xuất nước bọt. Khô miệng do thuốc thường hồi phục khi ngưng sử dụng thuốc.

    SK&DS, BS. Nguyễn Hữu Trường(BV Bạch Mai)
    Vietgioitinh.net muốn được trả lời bạn!

  2. #2
    Kimle2968's Avatar
    Junior Member

    Status
    Offline
    Ngày tham gia
    Jun 2008
    Bài viết
    84
    Cám Ơn!
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Cấp độ: 8 [♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥♥ Mr.Km ♥]
    Hoạt động: 0 / 178
    Điểm: 28 / 2543
    Kinh Nghiệm: 12%

    Mặc định Phản hồi: Tổn thương miệng do thuốc


    Khi có bệnh thì ta phải dùng thuốc nhưng một số loại thuốc cũng gây nên tác dụng phụ như loét miệng, khô miệng rối loạn tiêu hóa... Cần cân nhắc trước khi sử dụng thuốc, nên tham khảo ý kiến bác sỹ khi sử dụng thuốc, ngừng dùng thuốc hoặc chuyển loại thuốc khác khi gặp phải tác dụng phụ không mong muốn.

  3. #3
    dangloc123's Avatar
    New Member

    Status
    Offline
    Ngày tham gia
    Jun 2012
    Bài viết
    4
    Cám Ơn!
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Cấp độ: 1 [♥ Mr.Km ♥]
    Hoạt động: 0 / 5
    Điểm: 1 / 14
    Kinh Nghiệm: 21%

    Mặc định Phản hồi: Tổn thương miệng do thuốc


    Nhiệt miệng là tên gọi theo dân gian , thực chất bệnh là viêm loét niêm mạc miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau , thường là loét áp – tơ ( aphthous ulcer ) . Biểu hiện của bệnh là : trong niêm mạc miệng xuất hiện một hoặc nhiều đốm trắng to 1 – 2 mm , đốm trắng to dần hơi mọng nước , vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét . Vết loét to dần , có khi tới 10 mm làm ảnh hưởng nhiều đến ăn uống sinh hoạt và giao tiếp . Nếu không có biến chứng vết loét tự lành sau 10 – 15 ngày rồi lại tái diễn đợt khác tương tự .

    Các vết loét trong miệng rất lâu lành là do thường xuyên bị chìm trong nước bọt và dịch thức ăn . Phương pháp chữa hiệu quả chứng bệnh này là : Dùng thuốc bôi trực tiếp lên vết loét
    , phối hợp 4 loại thuốc : Sulfamethoxazon , Trimethoprim , Serathiopeptit và hoạt chất tạo màng ngăn . Thuốc là thuốc tây y - dạng bột nhưng vào trong miệng gặp nước bọt và huyết tương rỉ ra từ vết loét tạo thành màng, màng này đủ sức chịu được sự tấn công của nước bọt từ 6 – 8 giờ , cứ 6 – 7 giờ bôi thuốc 1 lần sẽ tạo được màng ngăn cách vết loét với dịch khoang miệng ( tương tự như băng bó vết thương ở ngoài da ) , đồng thời thuốc có tính cản khuẩn – tiêu viêm - ngăn ngừa tái phát ( thuốc không có kháng sinh ) từ đó làm cho vết loét nhanh lành . Kết hợp điều trị bổ trợ bằng kháng sinh ( nếu thấy cần thiết ) , uống vitamin ,các thuốc bổ gan , thuốc tăng đồng hoá ( Dynamogène ) , cải thiện tình trạng cơ thể , xem xét và điều chỉnh chế độ ăn uống – sinh hoạt – lao động …

    Thực tế đã kiểm chứng : chỉ sau 6 – 7 lần bôi thuốc là đã thy hiện tượnglành vết loét , đặc biệt sau 1 – 2 lần bôi thuốc là ăn mặn đã không xót ( do thuốc tạo màng ngăn ) . Tiếp tục điều trị khi bệnh tái phát ( do đặc tính của bệnh là tái diễn từng đợt , chỉ bôi thuốc lúc bệnh có biểu hiện viêm loét ) thấy biểu hiện bệnh nhẹ và thưa dần rồi khỏi sau 4 – 5 đợt chữa toàn diện như trên . Phương pháp này là kết quảhợp tác giữa Ds Vũ minh Tuấn ( Bắc giang - 0946 756 804 ) và Bs Đỗ hữu Thảnh ( Nam đinh - 0167 4198 250 )

    Đối với một số trường hợp bị rất nặng , vết loét to 1 - 1,5 cm , rất nhiều vết nhỏ , hoặc các vết loét tồn tại gần như thường xuyên thì phải uống thêm thuốc giải cơ địa tự miễn vì nguyên nhân chính gây nên bệnh là do cơ chế tự miễn . Thuốc sử dụng là : KetofHEXAN ( Ketotiphen fumarat 1,38 mg tương đương 1mg ketotiphen ) , đây là thuốc giải cơ địa tự miễn thường dùng để điều trị bệnh hen phế quản , viêm mũi dị ứng , mề đay ... 3 ngày đầu mỗi ngày uống 1 viên , các ngày sau mỗi ngày uống 2 viên , thời gian uống kéo dài 1 tháng . Sau đó uống giảm liều xuống 1 viên / ngày , kéo dài 1 tuần , tiếp tục giảm liều cách ngày uống 1 viên , kéo dài 7 - 10 ngày rồi nghỉ hẳn .

    Riêng các lần tái phát sau không bôi thuốc ngay khi mới thấy vết loét mà để 2 – 3 ngày sau , khi đó vết loét rõ hẳn mới bôi thuốc thì tác dụng ngừa tái phát tốt hơn , còn tác dụng nhanh lành vết loét không thay đổi . Mỗi lần bôi thuốc không cần nhiều , chỉ bôi một lương thuốc vừa đủ kín vết loét , ngậm thuốc khoảng 1 5 – 20 phút , nếu nước bọt ứa ra nhiều thì nhẹ nhàng nhổ nước dãi và thuốc dư ra , nếu bình thường thì cứ sinh hoạt giao tiếp bình thường và sau 30 phút mới ăn uống . Không bôi thuốc thật nhiều vào rồi đi ngủ , vì khi ngủ không nuốt nước bọt làm màng tạo ra rất dày, nên lại không bám được vào chỗ loét từ đó làm cho thuốc không có tác dụng . Do vây nếu bôi thuốc vào buổi tối thì sau khi bôi được 2 giờ mới đi ngủ .

    Vũ Minh Tuấn
    Mọi phản hồi xin được gửi về Ds Vũ Minh Tuấn : ĐT 0946 756 804 Email : tuankaqui@gmail.com hoặc tìm hiểu thông tin chi tiết tại trang Web : Thuốc chữa nhiệt miệng

Quyền hạn trên diễn đàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •